Ở các trường học vùng cao, học sinh
(HS) được học tiếng Việt từ bậc mầm non đến bắt đầu vào lớp 1. Nhưng do
các thầy cô không biết tiếng dân tộc, chương trình học còn bất cập, HS
còn quá bé, nhận thức chậm,… nên việc dạy tiếng Việt cho các em gặp rất
nhiều trở ngại. Tiếng Việt - chiếc cầu nối duy nhất giúp xoá mù chữ cho
các em - còn rất mịt mù.
Miệng thầy nói, tai thầy nghe!
 |
| Thầy cô không biết tiếng dân tộc, gánh nặng học tiếng Việt đang dồn lên vai các em HS miền núi. |
Một buổi dạy học của cô Hà Thị Vân -
giáo viên của Trường Mầm non Tân Dương, xã Tân Dương (Bảo Yên - Lào
Cai): Câu hỏi được đưa ra: “Tên con là gì?”. Cả lớp im lặng nhìn nhau ngơ ngác...
Thấy các em ngây ra như “vịt nghe
sấm”, cô Vân toát mồ hôi. Có em, suốt cả một kì học không mở miệng nói
lấy một câu! Cứ đến lớp, nhìn cô và… im lặng! Cô xoay đủ cách: Vẽ hình
minh họa, dùng tay ra hiệu, mang đồ vật ra để các em tận mắt nhìn thấy,
rồi đánh vần tiếng Việt. Có lần, cô vừa nói vừa chỉ tay vào chiếc ghế,
còn các em thì lõm bõm ê a bằng tiếng dân tộc! “Chỉ có cách đó là các
em dễ hiểu nhất. Đôi khi, chúng tôi phải "lôi" một HS cấp 2 xuống để
làm “phiên dịch”. Mãi đến sau này, khi phòng giáo dục huyện cử một
người dân tộc đến để trợ giúp tiếng thì việc học mới bớt khó khăn”.
Vì chưa biết một từ tiếng Việt nào,
nên nghe xong “ngoại ngữ” này, các em cứ ngẩn người ra. Các thầy cô
ngoài tiếng Kinh cũng... không biết tiếng gì khác! Vì thế, đã 3 năm
đứng lớp, nhưng cô Vân chưa bao giờ thấy hết ngại trước các học sinh
của mình.
Cô kể: “Dạy tiếng Việt cho các em,
tôi cũng không biết tiếng của các em. Hai người nói với nhau bằng 2
“ngoại ngữ”, làm sao hiểu nổi? Học sinh ở đây rất rụt rè, lại hay quên.
Vừa dạy xong lúc trước, lúc sau hỏi lại như mới hoàn toàn!” Cô giáo trẻ
nhớ lại ngày đầu đứng lớp: “Tôi khóc ròng rã một tuần, vì không biết
làm thế nào để dạy cho các em hiểu”.
Năm đầu tiên, cô Vân phụ trách lớp có
cả HS dân tộc Dao lẫn dân tộc Mông. Mỗi dân tộc lại có một ngôn ngữ
riêng. Trong một lớp học giờ có đến 3 “ngoại ngữ”! Vì thế, khó khăn vốn
đã nhiều nay lại bị nhân đôi, nhân ba lên!
Em Lý Thị Vui, dân tộc Mông, học sinh
Trường Tiểu học Tân Dương là một trong số ít học sinh nói sõi tiếng
Việt khi đang học lớp 3. Vui nói: “Những ngày đầu học tiếng, em cũng
không hiểu cô nói gì. Trong lớp em bây giờ vẫn còn nhiều bạn chưa biết
đọc”.
Vì không tìm được tiếng nói chung nên
phải mất rất lâu các em mới qua giai đoạn “làm quen” với các thầy cô.
Tại vùng núi Y Can của huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái, tình hình cũng
không khả quan hơn là mấy. Cô Lý Thị Sòng, giáo viên mầm non Trường Y
Can cho biết: “Thông thường, chúng tôi phải mất đến hơn 20 ngày mới có
thể khiến các em nói chuyện. Liên tục tiếp xúc, lấy ví dụ cụ thể, gần
gũi là cách chúng tôi khắc phục khoảng cách ngôn ngữ. Nếu như biết một
chút tiếng của các em thì thời điểm làm quen ban đầu này cũng bớt đi
nhiều trở ngại”.
Chính vì cách dạy tiếng Việt theo
kiểu “làm khó nhau” như thế này nên khi hết bậc mầm non, việc tiếp thu
kiến thức của các em ở lớp 1 vướng phải nhiều cản trở. Cô Nguyễn Thị Ái
Xuân, giáo viên dạy lớp 1 Trường Tiểu học Tân Dương lo lắng: “Lên lớp
1, các em mới biết mặt chữ cái. Trong khi đó, kiến thức lớp 1 đã yêu
cầu những kĩ năng đọc, ghép vần, tính toán. Việc này quả là quá sức với
các em ở đây”. Hầu hết các thầy cô giáo dạy học tại vùng này đều cho
rằng: Phải đến cấp 2, các em mới có thể nói và đọc trôi chảy sách giáo
khoa. Như vậy là toàn bộ phần kiến thức cấp 1 đều rơi vào trạng thái
bập bõm, và các em lại rơi vào tình trạng… “ngồi nhầm lớp”!
Trợ giảng cho giáo viên lớp 1?
Bất cập đầu tiên là việc giáo viên
dạy tiếng Việt cho HS dân tộc nhưng bản thân các thầy cô giáo lại không
biết tiếng dân tộc. Trong khi đó, trình độ nhận thức và khả năng tiếp
thu của HS miền núi rất hạn chế. Vì vậy, “gánh nặng” học tiếng Việt dồn
lên vai chính các em HS.
Theo số liệu thống kê của Phòng Giáo
dục huyện Bảo Yên (Lào Cai), toàn huyện có 2.200 HS các cấp, trong đó
có đến 1.800 em là người dân tộc, đa số là người Mông, Dao, Tày. Nhưng
toàn huyện chỉ có 3 giáo viên người Mông, hơn 10 giáo viên người Dao,
còn đa số là giáo viên người kinh.
Ông Nguyễn Văn Nhật, Trưởng phòng
Giáo dục huyện cho biết: “Ngay cả các cô giáo dân tộc cũng chỉ nói được
tiếng dân tộc mình, chứ dồn sang lớp các HS dân tộc khác là cô cũng…
chịu chết! Trong khi đó, tỉ lệ giáo viên và HS cùng một dân tộc không
bao giờ đồng đều. Nên chuyện dạy tiếng Việt cho các em khó vẫn hoàn
khó”.
Từ 2005, huyện triển khai đưa những
người dân tộc làm trung gian đảm nhận “phiên dịch” cho các cô và các
trò. Lúc này, một mâu thuẫn mới lại nảy sinh: Toàn huyện có 114 điểm
trường nhưng theo quy định, chỉ có 116 “phiên dịch viên”. Như vậy, mỗi
phiên dịch viên này phải đảm nhận trung bình 1 điểm trường. Mà mỗi 1
điểm trường, lượng HS tương đối đông, các dân tộc đa dạng nên chưa chắc
“phiên dịch viên” này đủ khả năng hoàn thành trách nhiệm.
Theo ông Nhật, để rào cản phổ biến
này được tháo gỡ dần dần, việc kết hợp dạy ngôn ngữ dân tộc cho giáo
viên là điều cần thiết: “Giáo viên là người trực tiếp dạy dỗ các em, vì
thế, nếu bản thân họ biết tiếng dân tộc thì phần lớn những khó khăn này
được tháo gỡ. Chiếc “cầu nối” mà đã được “xây dựng” thì việc “đi lại”
sẽ suôn sẻ”.
|
"Kết quả dạy học
tiếng Việt lớp 1 cho HS dân tộc ở một số địa phương đạt rất thấp: Số HS
của tỉnh Hà Giang đạt trung bình là 48%, yếu là 22%; số HS của tỉnh Đắk
Nông đạt trung bình: 33%, yếu: 16%; số HS của tỉnh Gia Lai đạt trung
bình: 33%, yếu: 16%. Có tới 70% học sinh dân tộc thiểu số không biết nói tiếng Việt hoặc nói tiếng Việt không rõ."
(Nguồn: Hội thảo “Dạy học tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn” do bộ GD-ĐT tổ chức ngày 5/8) |
Nhưng
nếu theo cách này, ông Trần Xuân Hưng, Phó Giám đốc Sở Giáo dục – Đào
tạo tỉnh Yên Bái bày tỏ lo lắng: “Nếu giáo viên cũng phải biết tiếng
dân tộc thì ai dạy cho họ? Và học vào lúc nào khi mà vừa phải dạy, vừa
phải đến tận nhà vận động các em đi học? Giải pháp trước mắt là tăng
cường trợ giảng. Về lâu dài, phải tăng cường lực lượng giáo viên diện
cử tuyển, tức là cử những người dân tộc có nhận thức tốt đi học rồi
phân phối về dạy cho chính HS người dân tộc đó, ít nhất là trong việc
dạy tiếng Việt. Lên lớp cao hơn, các em mới có đủ điều kiện tối thiểu
để tiếp thu kiến thức”.
Một bất cập nữa là chương trình dạy. Hiện nay, sách dạy tiếng Việt (từ lớp 1 đến lớp 5) được áp dụng chung cho HS cả nước. Tại Hội
nghị: “Dạy học tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số có hoàn
cảnh khó khăn” đầu tháng 8 vừa qua, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh
Hiển chỉ rõ: “Khả năng nghe - nói của HS dân tộc rất hạn chế, sách dùng
chung cho HS cả nước sẽ dẫn đến hiệu quả học không cao đối với HS miền
núi, khiến các em học yếu, dẫn đến bỏ học hoặc ngồi nhầm lớp”. Thực tế
này đã xảy ra tại huyện Bảo Yên, khi mà có nhiều em HS không tiếp thu
nổi kiến thức đã phải bỏ học giữa chừng.
Một cách được đánh giá là sẽ mang lại
hiệu quả cao trong học tập cho các em HS vùng núi là dùng tiếng mẹ đẻ
khi các em vào lớp 1. Tại Hội nghị kỉ niệm ngày Quốc tế xóa mù
chữ ở Việt Nam vừa diễn ra tại Trường PT Dân tộc nội trú Kim Bôi, tỉnh
Hòa Bình vào sáng 8/9/2008 vừa qua, bà Vibeke - Trưởng đại diện Văn
phòng Unesco Hà Nội cho biết: “Các báo cáo và các mô hình thí điểm
trong các năm qua cho thấy, nếu các em được sử dụng tiếng mẹ đẻ khi
bước vào lớp 1 thì hiệu quả học tập sẽ tốt hơn. Đồng thời, trình độ
tiếng Việt của các em sẽ có sự tiến bộ rõ rệt”.
Áp dụng ngay ý kiến này, bắt
đầu từ năm nay, học sinh Trường Dân tộc nội trú Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
ngoài tiếng phổ thông (tiếng Việt), các em còn được học tiếng bản ngữ
của dân tộc mình (tiếng Mường).
Theo dantri
"Các kiến thức đầy đủ nhất về khai thác, thiết kế, lập trình và quản trị Web" www.thegioiweb.vn