Sáng
tạo nên “Kỹ nghệ phần mềm” bao gồm các quy trình quản lý sản xuất phần
mềm cụ thể, trường đại học này có giáo trình mang định hướng nghề
nghiệp thực dụng đối với những người theo học và cung cấp số liệu
nghiên cứu cập nhật của ngành công nghệ toàn cầu. Thiết kế bài giảng
của Carnegie Mellon hoàn toàn ngược với cách học truyền thống. Theo đó,
sinh viên sẽ được thi ngay vào đầu giờ rồi thảo luận, sửa sai, thuyết
trình, đúc rút bài học với sự hướng dẫn của giảng viên, huy động sức
tập trung từ đầu đến cuối.
Ngay
năm đầu tiên, kỹ năng “mềm” như thuyết trình và làm việc theo nhóm đã
được chú trọng để phát huy khả năng của mọi học viên. Năm thứ 2, sinh
viên bắt đầu được tham gia làm dự án của các công ty lớn một cách
nghiêm túc như nhân viên chính thức. Nhờ phương pháp coi người học là
trung tâm này, Carnegie Mellon trở thành “cái nôi” phát triển nhân tài
và óc sáng tạo, trong đó có Kai Fu Lee – người đã khiến hai “gã khổng lồ” Google và Microsoft phải giành giật bằng vụ kiện hồi năm 2005.
“Nhân
lực phần mềm ở Việt Nam mới như lực lượng khâu giày mà thôi”, ông
Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc DTT-HanoiCTT, đơn vị đối tác của
Carnegie Mellon, ví von. “Họ cần phải có cái nhìn vĩ mô hơn và thành
thạo hơn trong các quy trình sản xuất phần mềm, bao gồm rất nhiều công
đoạn quản lý khác nhau. Xuất phát từ người chuyên làm outsourcing,
chúng tôi thấy cần phải thay đổi cách nhìn của thế giới về người Việt
Nam”.
Hiện
tại, nhân lực phần mềm Việt Nam được coi là có sức cạnh tranh với thế
giới ở khía cạnh giá rẻ. “Nhưng khi chứng kiến các lực lượng sẵn sàng
chấp nhận giá rẻ hơn mới nổi lên đến từ Bangladesh, Mexico,
Philipinnes…, tôi thấy phải nhìn nhận lại cách suy nghĩ đó”, ông Trung
nói. “Người Việt Nam cần phải có mức thu nhập tương đối chứ không thể
chịu thấp kém mãi được. Điều này có nghĩa là chất lượng công việc và
chất lượng con người phải được nâng cao để cạnh tranh”.
Trong khi Việt Nam còn thiếu tiêu chuẩn
đánh giá nhân lực CNTT, các chuẩn của Nhật Bản mà Trung tâm sát hạch và
hỗ trợ đào tạo VITEC thuộc Bộ Khoa học Công nghệ áp dụng cho thấy một
kết quả đáng “nản” (trong 2.285 kỹ sư thì chỉ có 367 người đạt chứng
chỉ, giai đoạn 2001-2005). "Trong xu hướng hội nhập WTO và mong muốn
đưa nhân lực CNTT Việt Nam ra thị trường thế giới, chúng ta cần tham
khảo các chuẩn quốc tế và có thể áp dụng theo những quy chuẩn này", ông
Trần Văn Nhung, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, bày tỏ.
Dù
vậy, những đơn vị trong Liên hiệp các trường đại học và doanh nghiệp
đào tạo CNTT Việt Nam (SEG) mà Carnegie Mellon chọn làm đối tác (bao
gồm DTT-HanoiCTT, đại học Duy Tân, Văn Lang, Cần Thơ) cũng cho biết sự
hợp tác này vừa là niềm vui, vừa là thách thức vì nếu không đảm bảo
chất lượng sinh viên theo yêu cầu, họ sẽ bị cắt mất cơ hội.
“Mời
được Carnegie Mellon vào Việt Nam là một chặng đường khó khăn vì họ hợp
tác với rất ít trường ngoài Mỹ’, ông Trung cho biết. “Chúng tôi may mắn
là có hãng máy bay Boeing hỗ trợ và đảm bảo tài chính để làm việc này,
tuy vậy, chi phí vẫn ở mức nhiều triệu USD. Chính phủ Australia từng
phải chi 59 triệu USD cho việc hợp tác”.
Vì
vậy, trong khóa đầu tiên 2008-2009, Học viện DTT-HanoiCTT sẽ chỉ tuyển
khoảng 40 sinh viên thực sự có khả năng với môn thi đầu vào là tiếng
Anh và CNTT để đào tạo theo bộ chứng chỉ của Carnegie Mellon. Học phí
là 5.000 USD/ năm, học trong vòng 2 năm. Sinh viên có cơ hội được vay
50% tổng học phí toàn khoá học từ DTT-HanoiCTT và nhận học bổng 1.000
USD. Đây sẽ là lứa sinh viên “cam kết” để Carnegie Mellon quyết định
hợp tác đào tạo cấp bằng đại học ở Việt Nam trong khoảng 5 năm tới.