Có rất nhiều yếu tố góp
phần tạo nên sự thành công khi phát triển ngành công nghiệp phần mềm
song theo quan điểm mà tiến sĩ Hoàng Lê Minh, Viện trưởng Viện Công
nghiệp phần mềm và nội dung số Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo Quốc gia
về Công nghiệp CNTT vừa diễn ra mới đây tại Hà Nội thì, chính sách thu
hút và sử dụng nguồn nhân lực ở trình độ cao nếu thành công có thể giúp
Việt Nam rút ngắn khoảng cách với nền CNTT thế giới chỉ trong một thời
gian ngắn, bên cạnh các nỗ lực đào tạo một lượng rất lớn nhân lực CNTT
để làm gia công xuất khẩu phần mềm.
Từ những bài học quốc tế
Kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực như Ấn Độ, Singapore cho
thấy, để phát triển thành công CNTT, họ đã biết hướng các doanh nghiệp
của mình vào mục đích nghiên cứu và xuất khẩu, tập trung vào các thị
trường trọng điểm như Mỹ, Nhật, Châu Âu và gần đây là Trung Quốc. Thành
công phát triển CNTT phụ thuộc vào hai nhân tố chính đó là doanh nghiệp
và chính phủ. Trong đó chính phủ phải có những chính sách phù hợp với
xu thế của thị trường và xác định chiến lược kinh doanh chính xác và rõ
ràng cho từng doanh nghiệp. Phải có chính sách lôi kéo, thu hút đầu tư
của các công ty đa quốc gia, xây dựng được liên kết chùm doanh nghiệp
hợp lý.
Chẳng hạn như Ấn Độ. Nền Công nghiệp phần mềm của Ấn đã được hình thành
từ đầu năm 1970, nhưng thực tế chỉ mới bắt đầu phát triển từ nửa cuối
thập niên 1980, đầu những năm 1990. Chỉ sau gần 20 năm, Ấn Độ đã trở
thành một trong những cường quốc sản xuất và cung cấp dịch vụ phần mềm
lớn nhất thế giới.
Nếu như vào năm 1981, ngành công nghiệp phần mềm của Ấn Độ mới chỉ đạt
15 triệu USD thì tới 2001, con số đó là 5 tỷ USD, chiếm 10,5% tổng kim
ngạch xuất khẩu của quốc gia này. Năm 2003, doanh số này là gần 17 tỷ
USD. Ấn Độ đã xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ phần mềm của mình ra
trên 100 quốc gia trong đó thị trường chính là Bắc Mỹ và Canada, Châu
Âu, Đông Nam Á, Nhật Bản...
Để đạt được thành công này, Ấn Độ đã rất chú trọng tới chính sách đào
tạo và thu hút nhân lực làm phần mềm. Với nỗ lực của cả hai phía nhà
nước và doanh nghiệp, Ấn Độ đã biến tiềm năng của mình thành hiện thực,
tìm được chỗ đứng cho mình trong một ngành công nghiệp quan trọng của
thế kỷ 21.
Với Singapore, thành công lớn nhất của họ là đã xây dựng nền CNTT hầu
như từ con số không. Chỉ trong vòng 15 năm, năm 1981 Singapore còn
"chưa biết gì" về CNTT, năm 1995 đã đạt doanh thu tới 19 tỷ USD trong
đó công nghiệp phần mềm chiếm gần 40%. Chính phủ Singapore đã hỗ trợ
phát triển CNTT bằng hai giải pháp đó là kích cầu và thu hút đầu tư
nước ngoài (tập trung vào sản xuất ổ cứng và các thiết bị ngoại vi của
máy tính). Singapore nhận định rằng, do những hạn chế về kỹ thuật, con
người và công nghệ, nền sản xuất kinh doanh CNTT chỉ có thể phát triển
nếu lôi kéo được các dự án đầu tư lớn của các công ty xuyên quốc gia
của Mỹ...
Còn Việt Nam: bao giờ có đột phá?
Cho tới thời điểm này, cần phải thừa nhận, mục tiêu phát triển ngành
Công nghiệp phần mềm của Việt Nam giai đoạn 2000-2005 đạt doanh số 500
triệu USD phần mềm đã không hoàn thành. Theo những số liệu thống kê lạc
quan nhất, tới cuối năm 2007, doanh số ngành công nghiệp phần mềm Việt
Nam mới đạt con số khoảng 500 triệu USD. Như vậy mục tiêu trên đã đạt
được chậm hơn dự kiến tới 2 năm.
Trong khi đó, bước sang năm 2008, vào 6 tháng cuối năm này, nền kinh tế
thế giới đang bước vào thời kỳ suy thoái trầm trọng, nền kinh tế của
Việt Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn về xuất khẩu, về nguồn thu ngân
sách, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng chậm lại. Điều này chắc chắn sẽ
ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng của ngành công nghiệp phần mềm và nội
dung số Việt Nam - tiến sĩ Hoàng Lê Minh nhận định.
Vậy làm thế nào để có thể cải thiện được tình hình này?
Cho rằng không nên chờ đợi để tìm ra một câu trả lời quá hoàn hảo cho
mọi vấn đề trong tìm kiếm chiến lược phát triển ngành công nghiệp CNTT
của Việt Nam, theo tiến sĩ Hoàng Lê Minh, Việt Nam cần phải hành động
ngay để tránh mất cơ hội phát triển của ngành. Đã đến lúc Chính phủ và
Bộ Thông tin và Truyền thông - cơ quan quản lý về mặt nhà nước trong
lĩnh vực này phải có những tuyên bố rõ ràng và mạnh mẽ về một lộ trình
phát triển công nghiệp CNTT, trong đó có công nghiệp phần mềm và nội
dung số cho Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nghiên cứu đặc thù của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam cho thấy
ngành rất cần một cơ chế chính sách liên quan đến đầu tư tài chính và
phát triển nguồn nhân lực rõ ràng, cụ thể. Đặc biệt là vấn đề phát
triển nguồn nhân lực. Ngoài nguồn nhân lực ta có được thông qua hệ
thống đào tạo trong nước, cần phát triển nguồn nhân lực thông qua thu
hút chuyên gia giỏi như nhân lực Việt kiều về tham gia xây dựng đất
nước...
"
Bài toán thu hút và sử dụng nguồn nhân lực ở trình độ cao
nếu tìm được lời giải hợp lý sẽ giúp Việt Nam rút ngắn được khoảng cách
với nền CNTT thế giới chỉ trong một thời gian ngắn, bên cạnh các nỗ lực
đào tạo một số lượng lớn nhân lực CNTT để làm gia công xuất khẩu phần
mềm" - tiến sĩ Hoàng Lê Minh lạc quan nhận định.
Theo VnMedia
"Kho thông tin đầy đủ nhất về dịch vụ WEB HOSTING - SERVER HOSTING" www.hosting.net.vn