Đáp:
Reflection và introspection đi đôi với nhau. Reflect là phơi bày, introspect thì "bươi moi". Cả hai dùng để cung cấp, phát hiện, truy cập, và thực thi thể loại, thuộc tính, phương thức của thực thể (object instance) lúc runtime.
Serialisable gồm có
1. serialising object có thể được "nghiền nát" thành 1 "đống" byte.
2. deserialising - xạy dựng từ 1 "đống" bytes thành object nguyên thuỷ.
Lấy ngữ cảnh về .Net Framework của MS, và cách giải thích dễ nhất, bạn có thể hiểu reflection như sau (không chính xác hoàn toàn nhưng dễ hiểu)
Có đôi lúc chúng ta muốn có thông tin về một đối tượng hay lớp nào đó vào lúc chạy, nghĩa là trong lúc viết CT, mình chưa thể biết được đối tượng(hay lớp). Một ví dụ như bạn viết debuger, cho phép LTV xem các thuộc tính của một object lúc chạy chẳng hạn. Khi này chúng ta cần có các "siêu thông tin" (meta data) của một đối tượng như tên lớp mà đối tượng thuộc về, tên các lớp cha mà đối tượng thừa kế, danh sách các thuộc tính, danh sách các hàm, danh sách tham số của các hàm ....
Trong .Net Framework cung cấp một tập các API cho phép mình thao tác và được gọi là reflection (tự phản chiếu về chính mình :) ).
Bạn có thể vào MSDN hay bất kỳ sách nào nói về .Net, tìm từ khóa Reflection sẽ biết rõ hơn tập API.
Hi vọng giúp ích được cho bạn.
Nguồng: diendantinhoc
3Cdotcom “Dịch vụ hosting tốt nhất cho video" www.hosting.net.vn