ĐỀ I
Câu 1 (2 điểm): Theo anh/ chị, Enxa, Tơriôlê có vai trò như thế nào trong cuộc đời và thơ ca của Lui Aragông?
Câu 2 (3 điểm): Suy nghĩ của anh/ chị về nhan đề tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu?
Câu 3 (5 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm:
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thắm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngã
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu
(Theo Văn học 12, tập một, tr. 79 - 80, NXB Giáo dục - 2006)
ĐỀ II
Câu 1 (2 điểm): Nêu ngắn gọn quá trình sáng tác và các đề tài chính của nhà văn Nguyễn Tuân.
Câu 2 (3 điểm): Anh/chị hiểu như thế nào về tâm sự của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn thơ sau:
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ xở
Làm nên Đất Nước muôn đời ...
(Đất Nước - trích Mặt đường khát vọng, theo Văn học 12, tập một, tr.249, XNB Giáo dục - 2006)
Câu 3 (5 điểm): Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
BÀI GIẢI GỢI Ý
ĐỀ I
Câu 1: Vai trò của Enxa Triôlê trong cuộc đời và thơ ca của Lui Aragông:
- Lui Aragông (1897-1982) là nhà thơ, nhà văn lớn của nước Pháp vào
thế kỷ XX. Ông đam mê, theo đuổi văn chương trong những năm tháng đầu
theo khuynh hướng siêu thực, có tính nổi loạn nhưng sau đó tìm thấy cái
đẹp ở lí tưởng cộng sản. Năm 1928 ông gặp và yêu Enxa Triôlê, cô gái
Nga gốc Do Thái và năm 1932 thì cưới nàng làm vợ.
- Enxa Triôlê là chỗ dựa trong cuộc đời của Lui Aragông và nàng đã
chắp cánh thơ, lí tưởng đẹp cho nhà thơ Lui Aragông, động viên nhà thơ
trong chiến đấu chống phát xít Đức ở thế chiến thứ 2 cũng như sáng tạo
nên những vần thơ sáng ngời lí tưởng cộng sản qua 2 tập thơ "Đôi mắt
Enxa" và "Anh chàng say đắm Enxa". Ông đã thể hiện nỗi đau đầy bi kịch
của nước Pháp và niềm tin tưởng mãnh liệt của các chiến sĩ anh hùng
vượt qua cuộc sống bi thảm ấy.
Câu 2: Suy nghĩ về nhan đề tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu:
Truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh, nhưng ngay từ nhan đề, tác
phẩm đã gợi lên ở tâm hồn người đọc về hình ảnh đẹp, lãng mạn, thơ
mộng. Tác phẩm in lần đầu có tên là "mảnh trăng". Sao không nói là
"vầng trăng" mà chỉ là "mảnh trăng" thôi ? Vầng trăng gợi lên sự tròn
đầy, hạnh phúc viên mãn. Còn hình ảnh "mảnh trăng" ẩn chứa cảm xúc lãng
mạn của nhà văn. Để tăng sức lãng mạn, tác giả đã thêm vào 2 từ "cuối
rừng"; "Mảnh trăng cuối rừng" : hình ảnh đẹp mỏng manh, ánh sáng dịu,
nhỏ nhắn và khiêm nhường lại như còn e ấp xa lấp sau những táng lá ngút
ngàn của rừng đêm. Hình ảnh "Mảnh răng cuối rừng" ấy (chứ không phải
vầng trăng vằng vặc giữa trời) đã nói lên tình yêu trong thời chiến ác
liệt, phải vượt qua bao thử thách, gian nan, tình yêu ấy như đóa hoa
mới vừa chớm nở, còn e ấp, đợi chờ, nó thanh cao, trong trẻo và đẹp đến
lạ lùng như một bản tình ca khắc khoải, mộng mơ, biêng biếc một màu
xanh hy vọng đợi chờ : Câu chuyện tình đẹp lãng mạn như trò chơi ú tim
trong cổ tích. Qua vẻ đẹp, lãng mạn của "Mảnh trăng cuối rừng", nhà văn
như muốn nói lên vẻ đẹp duyên dáng, lấp lánh "chất ngọc" trong sâu kín
nơi tâm hồn cô gái trẻ mang tên Nguyệt, nhân vật trọng tâm của tác
phẩm, người đọc phải dõi tìm thật lâu mới thấy.
Như vậy "Mảnh trăng cuối rừng" ẩn chứa vẻ đẹp lãng mạn của câu chuyện tình như trò chơi ú tim và vẻ đẹp ẩn kín trong tâm hồn cô gái tên Nguyệt.
Câu 3:
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nỗi thành người
(Quê hương - Đỗ Trung Quân)
Có lẽ đúng như thế! Nếu Hoàng Cầm không yêu quê hương, nhớ quê
hương, tha thiết với quê hương và đau nỗi đau của quê hương thì có lẽ
anh sẽ không làm được bài thơ “Bên kia sông Đuống” hay như vậy. Tác
phẩm đã diển tả sinh động hình ảnh quê hương ở thời bình và thời chiến
mà tiêu biểu là đoạn:
“… Bên kia sông Đuống
… Bây giờ tan tác về đâu?”
Đã hơn một lần ta bắt gặp mùi hương lúa nếp đầu mùa trong các tác
phẩm văn học Việt Nam. Nguyễn Đình Thi đã ngửi mùi thơm hương cốm mới
vào một sáng mùa thu. Ở đây ta lại nghe thoang thoảng mùi thơm lúa nếp
trên quê hương Kinh Bắc. Quê hương hiện về với bao cảnh đẹp. Những bờ
dâu bãi cát, nương mía nương ngô trù phú xanh tươi và đọng lại với
thanh khiết của hương lúa nếp. Phải! Đó là cái mùi dường như là “đặc
sản” chỉ có ở dân tộc Việt Nam. Người dân đi đâu cũng nhớ về hương lúa,
hương thơm của những cánh đồng trĩu hạt nặng bông là kỉ niệm của riêng
mình:
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người
(Hơi ấm ổ rơm - Nguyễn Duy)
Bên cạnh hương lúa nếp ấy, quê hương Kinh Bắc được nhắc đến với
những tranh làng Hồ đậm màu dân tộc. Những chú lợn với các xoáy âm
dương xoay tròn tượng trưng cho sự hòa hợp của đất trời và đó cũng là
nguyện vọng làm ăn phát đạt của người dân. Rồi các chú bé đầu để chỏm
với những bức tranh hứng dừa thật đặc sắc và đám cưới chuột hiện lên
thật vui nhộn đã phản ánh những nét sinh hoạt và phong tục cổ truyền
của làng quê Việt Nam. Đời sống văn hóa tinh thần người dân thật chân
chất bình dị nhưng chan hòa không khí vui tươi, đoàn kết. Thật độc đáo
khi Hoàng Cầm phát hiện gam màu trong bức tranh ấy là “màu dân tộc”.
Phải, đó là màu của dân tộc Việt chứ không phải màu du nhập từ phương
trời nào khác. Màu ấy đã được những nghệ nhân tìm tòi khai thác từ loài
cỏ cây, từ hoa đồng cỏ nội để pha chế sắc màu. Màu dân tộc phải được
thổi lên loại giấy cũng rất dân tộc; “giấy điệp”. Đó là loại giấy được
tráng lên bằng chất liệu vỏ sò, vỏ ốc để có sắc màu trắng tinh khiết…
Nỗi nhớ quê hương với những bức tranh làng Hồ nổi tiếng đã gợi lại bao
kỉ niệm ngọt ngào trong kí ức nhà thơ. Nỗi nhớ êm đềm như khúc hát ru
trên nhịp nôi đưa nhẹ nhàng và hình như Hoàng Cầm cũng muốn ôm trọn lấy
nó. Điều đặc biệt là trong đêm khi nhớ về quá khứ thì những mùi hương
có sức khơi gợi đánh thức con người mãnh liệt. Chút yên hương ấy của
quê nhà chính là điểm gợi đầu tiên để Hoàng Cầm sang bên kia sông Đuống
bằng suy tưởng - Nhớ về mùi hương nó rất độc đáo nhưng cũng rất tự
nhiên bởi vì những hương thơm, giọng hò… là “bóng” chứ không phải là…
“hình” của hiện thực. Nó rất khó nắm bắt nhưng cũng dễ khơi gợi một
vùng trời kỉ niệm thân yêu:
“Sao có thể ôm tròn nỗi nhớ
Trong đêm giày vò gầy tiếng dế giữa bao la
Sao có thể ướp hương thơm nội cỏ
Với mùi lúa lên đòng làm kem mát cho da?”
(Chút yên hương quá khứ - Thái Quang Vinh)
Thế nhưng cái ước muốn ấy không bao giờ nhà thơ thực hiện được. Vì
sao thế? Chiến tranh, đơn giản hai chữ ấy nhưng đã chứa trong đó bao sự
tàn phá chết chóc thật khủng khiếp, Quang Dũng từng xót xa “Những xác
già nua ngập cánh đồng” và căm giận “Bao lần rồi xác trẻ trôi sông?”
Hoàng Cầm cũng đồng tâm trạng đó, quê hương tiêu điều xơ xác thê lương:
“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”
Nhịp thơ đang kéo dài bỗng tắc nghẽn lại, dồn ứ lại với ba tiếng trong một dòng:
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Nhịp gắt cắt ra đối với nhịp bình thường. Dường như bao căm giận,
dồn nén được gói trọn vào hai dòng thơ này. Hoàng Cầm đã hiểu tinh tế
tâm lí người nông dân. Ruộng và nhà là tài sản quý nhất của họ, là gia
sản mà họ kế thừa từ đời này sang đời khác nhưng giờ đây không còn gì
cả, đã khô đã cháy hết rồi. Câu thơ mang tính chất liệt kê nhưng vẫn có
sức khái quát cao vì đã biểu hiện một cách sinh động nỗi lòng người dân.
Dòng thơ “Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang” buông chùng như
tiếng thở dài bế tắc. Câu thơ như kêu cứu, van nài bên bờ vực thẳm
nhưng dường như không ai cứu được nên nó rơi vào tuyệt vọng. Cái độc
đáo của nhà thơ Hoàng Cầm là ở chỗ anh không nói đến con người mà chỉ
hướng đến bức tranh. Lúc đầu thì “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong, màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.
Hai câu thơ đã cô đọng và thể hiện khá đầy đủ những nét đặc sắc của
tranh làng Hồ: Cái hồn dân gian và dân tộc của nó từ đề tài (gà, lợn)
đến đường nét và màu sắc tươi sáng (sáng bừng, nét tươi trong) chất
liệu độc đáo (giấy điệp). Còn về sau thì ông dùng hai bức tranh tương
phản để nói cảnh chia lìa.
Trên là hòa bình, là quá khứ, dưới là chiến tranh, là hiện tại; trên
là sum họp dưới là chia lìa, xưa là cuộc sống, nay là cái chết, xưa là
thiên đường hạnh phúc nay là địa ngục trần gian.
Hình tượng bức tranh như sống động trước mắt ta:
“Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngã
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?”
Tranh dân gian dường như trở thành tranh của tâm hồn chính mà thơ nó
là cuộc sống, là nhịp thở của vùng Kinh Bắc. Nó chen vào nỗi nhớ của
anh và thành một yếu tố quan trọng trong nỗi nhớ quê hương. Câu thơ như
trộn lẫn thực và ảo vì đàn “chó ngộ”, “mẹ con đàn lợn âm dương”, “đám
cưới chuột” đang quay cuồng trong cơn lốc chiến tranh ảo vì nhớ lại
hình ảnh êm đềm quá khứ, thực vì nó sống động trong tâm trí nhà thơ như
những cảnh thật ngoài đời, như con người thật quê hương. Thật đúng như
thế vì những bức tranh làng Hồ chính là cái nhìn và niềm ao ước của con
người về cuộc sống ấm no yên vui hạnh phúc thanh bình mà nay chỉ là
niềm hoài vọng và anh cũng không biết rõ “bây giờ tan tác về đâu?”. Đó
cũng là sự xót xa đau đớn, căm hận. Nó trở thành điệp khúc lặp đi lặp
lại ở những đoạn sau để cuối cùng “chúng ta không biết nguôi hờn”.
“Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm hay chính là nỗi lòng
nhà thơ khi hay tin giặc chiếm quê mình. Có lẽ vì vậy, nên khi tiếp xúc
lần đầu với bài thơ Nguyên Hồng đã tuôn trào nước mắt… Đoạn thơ khép
lại nhưng mở ra trước mắt ta những hình ảnh tươi đẹp về ngày đất nước
hòa bình thống nhất để quê hương Kinh Bắc bên kia sông Đuống không còn
“tan tác về đâu” mà sẽ giống dòng sông Đáy.
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
(Đôi mắt người Sơn Tây - Quang Dũng)
ĐỀ II
Câu 1: Quá trình sáng tác và các đề tài chính của nhà văn Nguyễn Tuân:
a) Trước cách mạng tháng Tám:
- Là cây bút tiêu biểu cho làng văn xuôi lãng mạn thời kỳ phát triển cuối cùng.
- Tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời (1940); Tuỳ bút I (1941); Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Một chuyến đi (1941); Tóc chị Hoài (1943); Tuỳ bút II
(1943),… Ông viết về những điều tâm huyết, về những nét đẹp trong
truyền thống văn hóa của dân tộc mà nay còn vang bóng, bên cạnh đó là
những cảnh đẹp trên quê hương qua quá trình di chuyển, xê dịch đầy lãng
mạn tài hoa của ông.
Trước cách mạng, nhiều lần ông tuyên bố bênh vực quan điểm nghệ
thuật vị nghệ thuật, nhưng trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của
mình, ông luôn thể hiện niềm tự hào dân tộc sâu sắc, sự tôn trọng, khâm
phuc những giá trị văn hoá cổ truyền của quê hương.
Tuy vậy, đôi lúc quá đà, chất tài hoa tài tử đó lại mang tính khoa trương, cường điệu.(Chiếc lư đồng mắt cua)
b) Sau cách mạng tháng Tám:
- Nguyễn Tuân đã sống những ngày đổi đời của dân tộc nên cũng như
nhiều nhà văn khác, ông đã quyết tâm “lột xác” hòa mình vào cuộc sống
rộng lớn của nhân dân.
- Năm 1946, chuyến đi đầu tiên của ông trong cuộc đời mới là tham
gia đoàn sáng tác văn nghệ đi vào mặt trận Nam Trung bộ đánh Pháp.
- Năm 1948 lên đường ra Việt Bắc dự Đại hội văn hóa và Hội nghị văn
nghệ toàn quốc. Ông được bầu làm Tổng thư ký đầu tiên của Hội Văn Nghệ
Việt Nam.
- Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã dự nhiều chiến dịch với bộ
đội ở Tây Bắc, Đông Bắc, vào vùng sâu địch hậu Bắc Ninh để viết về du
kích chống càn.
- Tác phẩm tiêu biểu: Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950); Tùy bút kháng chiến (1955)…
- Trong kháng chiến chống Mĩ, ông đã đặt chân đến nhiều nơi tuyến
lửa: Vĩnh Linh, cầu Hiền Lương, Quảng Bình… ngược sông Đà hiểm trở và
ngang dọc khắp các miền Than Uyên, Quỳnh Nhai, Sơn La… để liên tiếp cho
ra đời những bài tùy bút, bút ký nóng hổi tính thời sự và mang dấu ấn
nghệ thuật độc đáo.
- Tác phẩm chính: Sông Đà (1960); Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972); Kí (1976)…
Như vậy, đề tài của ông hướng về nhân dân, về kháng chiến, về cuộc sống mới và con người mới.
Câu 2:
Đất Nước trích chương V, trường ca Mặt đường khát vọng
được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác vào mùa đông năm 1971, nhà thơ bộc lộ
tấm lòng yêu quê hương đất nước và ca ngơi truyền thống văn hóa lâu đời
của dân tộc mình. Qua đoạn thơ:
Em ơi em Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời…
Nhà thơ đã bộc lộ sự tự ý thức của tuổi trẻ về vai trị, trách nhiệm của mình trong cuộc chiến đấu và sự tự thức sâu sắc về Đất nước, về nhân dân qua những trải nghiệm của chính mình.
Đất nước có trong mỗi cá nhân, đất nước kết tinh trong mỗi
con người. Bởi vì mỗi cá nhân không chỉ là riêng mình mà còn là của đất
nước. Mỗi cuộc đời đều thừa hưởng được những giá trị vật chất và tinh
thần của dân tộc. Cho nên tác giả nhắn nhủ chúng ta phải có trách nhiệm
với đất nước. Lời nhắn nhủ ấy là với “em”nên nó có tính chất tâm sự
riêng tư. Và đó là cả tấm lòng và ân tình của nhà thơ, là sự gắn bó sâu
nặng với nhân dân đất nước trong quá trình chiến đấu gian khổ.
Đất nước không ở đâu xa mà kết tinh, hóa thân trong mỗi
người. Sự sống mỗi cá nhân chỉ tồn tại và có ý nghĩa khi biết gắn bó và
san sẻ cùng nhân dân và đất nước. Mỗi cá nhân phải có trách nhiệm gìn
giữ, phát triển nó, truyền lại cho các thế hệ tiếp theo. Mỗi người phải
biết hóa thân cho sự tồn tại về hình thức (dáng hình) và nội dung,
truyền thống tình yêu và sự bất tử muôn đời.
Đoạn thơ như một lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ về trách nhiệm với đất
nước, tuy là đoạn thơ chính luận nhưng người đọc không cảm thấy là
những lời “giáo huấn” mà chỉ như một lời tự nhủ, tự dặn mình, chân
thành, tha thiết…
Câu 3: Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của
Kim Lân, đã xây dựng hình tượng người mẹ với diễn biến tâm trạng thật
là sinh động. Kim Lân đã bộc lộ quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Ấy
là khi nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự
túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn
vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và
hi vọng vào ngày mai.
Bà cụ Tứ vốn là một nông dân từng trải, trung hậu. Cụ hiểu rõ hoàn
cảnh của gia đình mình; Con trai mình trong những ngày tháng bị cái đói
hành hạ ghê ghớm.
Khi trông thấy người đàn bà ở trong nhà với con mình, bà cụ Tứ vô
cùng ngạc nhiên “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà nhỉ? (…)
Sao lại chào mình bằng u (…) Ai thế nhỉ? (…) Ô hay, thế là thế nào
nhỉ?”. Đến lúc biết được người đàn bà kia chính là vợ của con trai
mình, tâm trạng của bà cụ diễn biến khá phức tạp, phong phú.
Trước hết, nghĩ đến cảnh túng thiếu, đói khát của gia đình mình cụ
Tứ thấy tủi thân, tủi phận. Cụ ý thức rất rõ lấy vợ cho con trai lẽ ra
phải thế này, thế nọ; nhưng cái khó bó cái khôn nên chỉ còn cách nghĩ
ngợi tủi thân, tủi phận. Rồi cụ thương con đẻ, thương đến cả con dâu.
Cụ biết duyên cớ vì đâu người ta phải theo con mình (“Bà lão nhìn người
đàn bà lòng đầy thương xót”, và cụ nói với vợ chồng Tràng “Chúng mày
lấy nhau lúc này, u thương quá”.
Việc Tràng “nhặt” được vợ vừa là nỗi buồn rầu lo lắng, vừa là niềm
vui mừng của bà lão tội nghiệp này. Mừng vì người con thô lậu, quê kệch
đã có vợ. Lo vì đúng lúc đói khát, chết chóc này, liệu lấy gì mà nuôi
nhau. Tuy vậy, dẫu sao niềm vui vẫn nhiều hơn. Bà lão “tươi tỉnh khác
hẳn ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão
xăn xắn thu dọn quét tước nhà cửa”. Đến bữa ăn, bà cụ Tứ nói toàn
chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này. Cụ cố giấu cái lo, động viên
các con “nhà ta thì còn nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo
nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông trời cho khá… Biết thế nào hở con, ai
giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì con cái chúng mày về sau”.
Nhưng “nghĩ ngợi mãi”, “bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt
chảy xuống ròng ròng”. Bởi bà cụ nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái
út, nghĩ đến cuộc đời khổ cực của mình, nghĩ đến tương lai của con trai
và con dâu… và chẳng thể thoát ra khỏi không khí chết chóc đang bủa vây
xung quanh.
Qua diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ, chúng ta có thể nhận thấy biệt
tài phát hiện và miêu tả tâm lí một cách chân thật và sắc sảo của Kim
Lân. Điều này có tác dụng to lớn, khắc hoạ rõ nét chủ đề của tác phẩm:
cho dù phải sống trong một tình thế hết sức bi đát, bà cụ Tứ nói riêng
và những người lao động nói chung vẫn hướng tới tương lai, vẫn khao
khát một mái ấm gia đình.
Giáo viên Đinh Phan Cẩm Vân
(Trung tâm BD Văn hóa và LT Đại học Vĩnh Viễn)
“ Kho kiến thức đầy đủ nhất về HOSTING" www.hosting.net.vn