Tăng trưởng liên tục...
Kể từ khi viễn thông Việt Nam tăng tốc phát triển (khoảng từ năm 1993),
đến nay sản xuất công nghiệp BCVT vẫn là một thế mạnh riêng của VNPT.
Hiện Tập đoàn này là doanh nghiệp BCVT-CNTT duy nhất ở Việt Nam có năng
lực sản xuất công nghiệp. VNPT đang tự đáp ứng khoảng 40% nhu cầu thiết
bị trên mạng lưới của mình, với giá trị các sản phẩm công nghiệp cung
cấp trên mạng lưới đạt khoảng 42-45% tổng giá trị đầu tư hàng năm của
Tập đoàn. Các sản phẩm chủ yếu do các doanh nghiệp khối công nghiệp
VNPT sản xuất bao gồm thiết bị tổng đài, truyền dẫn, cáp quang, cáp
đồng, các thiết bị đầu cuối, các thiết bị phụ trợ và phụ kiện đấu nối,
lắp đặt cho mạng ngoại vi, các sản phẩm nhựa và ống nhựa, thiết bị phục
vụ khai thác bưu chính, thẻ viễn thông, các sản phẩm cho mạng thế hệ
mới như các Modem xDSL, thiết bị truy nhập đa dịch vụ BLC, Access
Gateway, MSAN, IP-DSLAM, cáp truyền số liệu, cáp LAN; cáp quang cho
mạng truy nhập... và các sản phẩm in ấn.
Trong 3 năm 2005-2007, giá trị tổng sản lượng khối công nghiệp VNPT đã
tăng từ hơn 3.350 tỷ đồng lên gần 5.100 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng bình
quân 24%/năm. Tổng doanh thu cũng tăng từ gần 3.950 tỷ lên hơn 6.960
tỷ, tăng bình quân 30%/năm. Xuất khẩu tăng từ 32 tỷ năm 2005 lên 89 tỷ
năm 2007.
Ông Đinh Minh Sơn, Phó trưởng Ban KHCN Công nghiệp VNPT cho biết, toàn
bộ doanh nghiệp khối công nghiệp VNPT hiện đều đã được cổ phần hóa hoặc
trở thành công ty TNHH 1 thành viên. Đây là một yếu tố quan trọng góp
phần thúc đẩy tính năng động của các doanh nghiệp. Bức tranh toàn cảnh
khối công nghiệp VNPT là khá lạc quan.
...nhưng thiếu định hướng chiến lược do cơ chế
Tuy
nhiên, theo ông Đinh Minh Sơn, vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng quan
ngại như giá trị sản phẩm cung cấp trong Tập đoàn chiếm 78-91% tổng
doanh thu cả khối, xuất khẩu đạt giá trị thấp, chỉ chiếm 1% tổng doanh
thu và cung cấp cho thị trường ngoài VNPT (Viettel, EVN Telecom,
SPT...) chỉ đạt khoảng 8-21%; tốc độ tăng doanh thu và tổng sản lượng
chậm lại vào năm 2007 và sụt giảm mạnh trong 6 tháng đầu năm 2008. Bên
cạnh đó là việc thiếu một định hướng chiến lược phát triển tổng thể,
dài hơi cho toàn bộ khối công nghiệp VNPT.
Câu chuyện cáp đồng là một bài học thực tế: Khi công nghệ dịch vụ có xu
hướng chuyển từ cố định sang di động, VNPT (cũng như các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ viễn thông khác) bắt đầu chuyển hướng đầu tư kinh
doanh sang chủ yếu vào mạng di động nhưng không định hướng được xu
hướng chuyển đổi này cho các doanh nghiệp công nghiệp, dẫn đến tình
trạng nhiều dây chuyền sản xuất cáp đồng mới đầu tư thời gian gần đây
đang rơi vào tình trạng không có hợp đồng để sản xuất do thị trường hạ
tầng mạng cố định gần như đóng băng. “
Trong vài năm tới, công nghệ WiMax cũng đang đe dọa thay thế dịch vụ ADSL”, ông Đinh Minh Sơn nói.
Ông Sơn cũng cho biết, “
nguyên nhân đến nay VNPT vẫn chưa xây
dựng được một định hướng chiến lược tổng thể cho khối công nghiệp của
mình là do bí về cơ chế. Với quy chế đấu thầu, Tập đoàn không tìm thấy
cách nào có thể hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp công
nghiệp. Nếu phân tích về 4 yếu tố gắn kết nội lực của một tập đoàn kinh
tế gồm “vốn-công nghệ-thương hiệu-thị trường” thì trừ yếu tố công nghệ
và thương hiệu (VNPT chưa đạt tới trình độ nghiên cứu và phát triển
công nghệ), VNPT hoàn toàn không thể hỗ trợ về vốn và thị trường cho
các doanh nghiệp công nghiệp do cơ chế Nhà nước hiện nay. Trước đây,
khi còn là Tổng công ty và các doanh nghiệp công nghiệp chưa cổ phần
hóa, VNPT có thể hỗ trợ các doanh nghiệp về thị trường bằng cách giao
chỉ tiêu kế hoạch, nhưng nay thì không thể làm vậy”.
Theo Thế Tùng - ICTNews
"Các kiến thức đầy đủ nhất về khai thác, thiết kế, lập trình và quản trị Web" www.thegioiweb.vn